(Nguồn MKR, Theo Châu Trần) 

Dạo ấy, gạo chưa là món hàng xuất cảng ra nước ngoài, với qui mô lớn. Chở gạo từ Rạch Giá đến Sài Gòn là khó khăn. Tàu buôn Hải Nam chở gạo về bên Tàu, mặc dù nước Tàu luôn luôn thiếu gạo nhưng chở gạo không đem lợi bằng chở cá khô, tôm khô, á phiện lậu thuế, hoặc sáp ong.

Lúa lại bán không cao giá vì trong vùng ai cũng làm chút ít ruộng để ăn. Chở lúa gạo lên các tỉnh miền trên là chuyện tốn kém, không chắc có lợi. Vĩnh Long, Mỹ Tho đâu thiếu lúa gạo?

Nói như thế, để tạm xác nhận:

-Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu chưa phải là vựa lúa, luôn cả vùng Cần Thơ, trước khi người Pháp đến.

-Sinh hoạt vật chất, tinh thần ở vùng nói trên con thấp, mãi đến khi người Pháp đặt nền móng cai trị thì Sông Cái Lớn, Cái Bé ở Rạch Giá, sông Gành Hào, Bảy Háp, Sông Ông Đốc ở Bạc Liêu, Cà Mau vẫn còn hoang vu, dân chúng làm ruộng khó khăn với năng suất khiêm tốn.

***
Phải đợi đến lúc đường vận tải Rạch Giá- Cà Mau được khai thông thì nghề canh nông mới phát triển, lúa bán với giá cao và có người giúp vốn cho nông dân làm mùa - mặc dù cho vay nặng lời. Ngoài ra, thêm nhân công từ Miệt Vườn xuống tị nạn chánh trị hoặc trốn nợ.

Kinh xáng Xà No đem lúa gạo từ Rạch Giá lên Chợ Lớn- Sài Gòn. Hệ thống kinh đào Ngã Năm (Rạch Giá), Ngã Bảy (Cần Thơ - Phụng Hiệp), Ngã Tư Vĩnh Phú (ăn xuống Bạc Liêu), Vĩnh Hưng, Vĩnh Trạch, kinh Bạc Liêu- Cà Mau cũng làm nhiệm vụ nói trên. Đây mới là vùng đất rộng xứng danh "cò bay thẳng cánh".

Nước ngọt từ Hậu giang chảy qua vùng "nước mặn đồng chua" đến biển, lại còn một số kinh đào tuy ít ỏi nhưng giúp việc giao thông từ quận này qua quận khác.

***
Nhà khảo cứu P. Bernard nhận xét rằng mức sản xuất, tính đổ đồng mỗi đầu người, lên đến tột đỉnh từ năm 1911 đến 1915 ở Nam phần; từ đó về sau, mức ấy tuột xuống.

Đem so sánh với việc đào kinh xáng, chúng ta thấy hệ thống kinh rạch đào ở Ngã Năm- Ngã Bảy được hoàn thành vào khoảng 1906-1908, nghĩa là mức sản xuất tăng lên, sau khi đào kinh xáng bốn năm năm.