(Nguồn Gappingworld.com, Theo Rabobank) 

Khan hiếm nước, phân phối không đều và ô nhiễm đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho phát triển nông nghiệp bền vững tại Trung Quốc. Các chính sách của chính phủ Trung Quốc hiện đang tập trung vào bảo tồn nước. Thông qua nhập khẩu nước gián tiếp gắn với thương mại nông nghiệp, Trung Quốc có thể đáp ứng nhu cầu nội địa đang tăng, đồng thời bảo tồn được các nguồn lực nước nội địa. Nhập khẩu hàng hóa nông sản của Trung Quốc dự báo sẽ liên tục tăng, đặc biệt là đậu tương và ngô. Nam Mỹ, Mỹ và Đông Nam Á sẽ tiếp tục là các đối tác thương mại nông nghiệp chính của Trung Quốc.

Nền nông nghiệp thâm dụng nước của Trung Quốc

Chiếm 9% đất nông nghiệp thế giới nhưng chỉ chiếm 6% lượng nước ngọt toàn cầu, Trung Quốc cần lượng thực phẩm đáp ứng cho 21% dân số toàn cầu. Từ khía cạnh này, tình trạng khan hiếm nước của Trung Quốc thậm chí còn là một thách thức nặng nề hơn so với thiếu đất nông nghiệp. Ngoài ra, các nguồn lực nước của Trung Quốc phân phối không đều theo địa lý. So với phía nam dồi dào nước, phía bắc chỉ chiếm 20% tổng nguồn cung nước ngọt của Trung Quốc nhưng lại chiếm tới 2/3 diện tích đất nông nghiệp của nước này.

Nông nghiệp cho tới nay là ngành tiêu thụ nước nhiều nhất Trung Quốc. chiếm 65% tổng lượng thu hồi nước ngọt của nước này. 75% nguồn ngũ cốc của Trung Quốc và hơn 90% cây hoa màu như bông và rau được trồng trọt tại các khu vực đất nông nghiệp được thủy lợi hóa. Tuy nhiên, lạm dụng nước thủy lợi hóa, đặc biệt là nguồn nước ngầm, dẫn tới cạn kiệt các tầng ngậm nước, cũng như gây tích lũy muối, lở đất, ô nhiễm nước và các vấn đề môi trường khác tại nhiều khu vực.

Trong một tương lai gần, áp lực nguồn nước sẽ tiếp tục thách thức sự phát triển bền vững của nông nghiệp Trung Quốc. Khi tăng trưởng kinh tế và đô thị hóa tiếp tục, tiêu dùng các hàng hóa thâm dụng nước trên đầu người, như thịt và sữa, sẽ tăng lên. Trong khi đó, biến đổi khí hậu có thể dẫn tới biến động sản xuất mạnh hơn.

Chính phủ Trung Quốc đang tìm các giải pháp sáng tạo để giải quyết các vấn đề này. Trước đó, chính phủ chủ yếu tập trung vào cải thiện cơ sở hạ tầng nguồn cung nước, như các hồ chứa mới, các giếng mới và các dự án luân chuyển nước nội liên lưu vực sông. Từ năm 2012, bảo tồn nước trở thành một nhiệm vụ ưu tiên, khi chính phủ thành lập một hệ thống quản lý nước nghiêm ngặt để tối ưu các nguồn lực, giảm ô nhiễm và tăng khả năng chống chịu các thảm họa liên quan đến nước như lũ lụt và hạn hán. Các hệ thống thủy lợi tiết kiệm nước được tăng cường áp dụng để cải thiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực nước. Cải thiện năng suất thông qua R&D cũng sẽ dẫn tới tiết kiệm sử dụng nước cho trồng trọt.

Luồng nước ẩn trong giao dịch hàng hóa nông sản giúp giảm áp lực và bảo tồn các nguồn nước

Trung Quốc cũng đang bảo tồn một lượng nước ngọt lớn thông qua nhập khẩu các hàng hóa nông sản thâm dụng nước, làm giảm áp lực sử dụng nước nội địa. Đây là lý do vì sao Rabobank gọi nhập khẩu hàng hóa nông sản thâm dụng nước chính là nhập khẩu nước gián tiếp (Virtual water).

Rabobank đã tiến hành một phân tích định lượng về thương mại nước gián tiếp của Trung Quốc gắn với các luồng thương mại ngũ cốc và hạt có dầu (bao gồm dầu ăn và các loại sản phẩm protein). Các nông sản được lựa chọn để đo lường lượng nước này, được định nghĩa là lượng nước cần để sản xuất các loại nông sản này. Từ niên vụ 2013/14 – 2018/19, Trung Quốc đã nhập khẩu trung bình 286 tỷ m3 nước gián tiếp hàng năm thông qua giao dịch hàng hóa, trong khi chỉ xuất khẩu 10 tỷ m3. Trong 5 năm qua, lượng nước nhập khẩu ròng trung bình lên tới 276 tỷ m3, tương đương 7% sử dụng nước nông nghiệp nội địa của Trung Quốc.

Trung bình trong 5 năm qua, đậu tương chiếm tới hơn 60% tổng lượng nhập khẩu nước gián tiếp và tiết kiệm cho Trung Quốc tới 180 tỷ m3 nước ngọt hàng năm. Dầu cọ đứng thứ 2 với 10%, theo sau là hạt kê, tiểu mạch và hạt cải dầu. Đối với những ngũ cốc làm thực phẩm khác như lúa mì và ngô, Trung Quốc vẫn gắn với chính sách tự cung tự cấp, với lượng nhập khẩu lẫn nhập khẩu nước gián tiếp tương đối nhỏ.

Các đối tác thương mại nước gián tiếp dẫn đầu của Trung Quốc chính là các nước xuất khẩu đậu tương và dầu cọ lớn nhất, như Nam Mỹ, Mỹ và Malaysia/Indonesia. Các nhà xuất khẩu khác đang cung cấp phần lớn các loại ngũ cốc làm thực phẩm/TACN khác cho Trung Quốc như lúa mì và tiểu mạch. Nhập khẩu từ Mỹ, Úc và Canada hiện đang gặp khó khăn do các tranh chấp thưogn mại trên diện rộng nhưng được dự báo sẽ phục hồi.

Nhập khẩu đậu tương và ngô của Trung Quốc dự báo tăng, cùng với đó là lượng nhập khẩu nước gián tiếp

Bên cạnh đáp ứng nhu cầu nội địa, luồng thương mại nước gián tiếp cũng giúp tối ưu hóa phân bổ nguồn lực nươc toàn cầu. Do các đặc trưng cố định của tài nguyên tự nhiên và sự khác biệt về năng suất, lượng nước sử dụng cho mỗi tấn đậu tương sản xuất tại Trung Quốc cao hơn nhiều so với đậu tương sản xuất tại Mỹ và Brazil. Có những cơ sở vững chắc để tin rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng nhập khẩu đậu tương, một khi hoạt động chăn nuôi lợn tại nước này phục hồi, thay vì mở rộng sản xuất đậu tương nội dịa.

So với lúa gạo và lúa mì, ngô là cây trồng ít thâm dụng nước hơn và có tiềm năng nhập khẩu cao hơn. Để sản xuất 1 tấn ngô tại Trung Quốc, lượng nước sử dụng là 801m3, cao hơn 60% so với tại Mỹ. Do tiến trình xả kho ngô của Trung Quốc dự kiến kết thúc trong 2 – 3 năm tới. Từ khía cạnh giao dịch nước gián tiếp, Mỹ dường như là một ứng cử viên thương mại phù hợp hơn Nam Mỹ và biển Đen. Nhập khẩu ngô và các sản phẩm từ ngô của Mỹ giúp Trung Quốc bảo tồn và tối ưu sử dụng nguồn lực nướcm đồng thời đáp ứng tăng trưởng nhu cầu ngày một lớn hơn trong tương lai. Rõ ràng, các yếu tố khác như giá, chất lượng và tính sẵn có, cũng như chính sách hỗ trợ sản xuất ngô của Trung Quốc cũng tác động tới quyết định nhập khẩu của nước này.